Chủ nhật, 15/09/2019 | 09:45 GMT+7
    Bảng giá khám bệnh, ngày giường và DMKT đối với người bệnh có thẻ BHYT  |  Đánh giá xét duyệt thuyết minh đề cương |  ĐỒNG CHÍ PHẠM THANH BÌNH CHỦ TỊCH CÔNG ĐOÀN Y TẾ VIỆT NAM |  KỶ NIỆM 109 NĂM NGÀY QUỐC TẾ PHỤ NỮ |  Bảng giá khám bệnh, ngày giường và DMKT đối với người bệnh có thẻ BHYT  |  Bệnh viện 74 Trung ương tổ chức buổi gặp mặt Kỷ niệm 64 năm |  Thông báo công nhận kết quả trúng tuyển viên chức |  Thông báo kết quả xét tuyển viên chức 2018 |  Hội nghị đại biểu công chức, viên chức, lao động năm 2018 |  Khai mạc kỳ xét tuyển viên chức năm 2018 | 
  •      
  •      
  •      
  •      
  •      
  •      
  •      
  •      
  •      
  •      
  •      
  •      
CÂU HỎI ĐƯỢC QUAN TÂM
Người bị bệnh lao khi ho, người bên cạnh có thể lây bệnh?
LIÊN KẾT

TÌM KIẾM
  Số lượt truy cập : 3982977  
  Số người online: 62  
 
 
Thông khí nhân tạo
Trường hợp 1: 
  Một bệnh nhân nam, 55 tuổi, có tiền sử COPD, hiện đang nằm tại phòng cấp cứu vì khó thở nhanh nông mức độ nặng do đợt nhiễm virút mới. Tại phòng cấp cứu, độ bão hòa oxy mao mạch của bệnh nhân là 88%. Bệnh nhân đang thở gắng sức và nói đứt câu. Thăm khám thấy tiếng rít nan tỏa, thì thở ra kéo dài hơn, X.quang ngực chỉ ra hình ảnh của COPD và không có tổn thương mới khác. Kết quả khí máu động mạch: pH 7.17, PaCO2: 55 mm Hg,PaO2: 62 mm Hg, HCO3- 25.
1. Những chỉ số gì cần quan tâm để một bệnh nhân bắt đầu cần phải thông khí nhân tạo?
2. Bạn nghĩ gì về việc có thể sử dụng thông khí áp lực dương không xâm nhập (BiPAP) ở bệnh nhân này?
3. Sự khác nhau giữa BiPAP và áp lực dương liên tục (CPAP)?. Những chỉ số gì để sử dụng các modes thở khác nhau của thông khí nhân tạo không xâm nhập?.
1. Có nhiều chỉ số cần quan tâm để bắt đầu thông khí nhân tạo bao gồm: Suy hô hấp tăngCO2, suy hô hấp giảm O2, để ngăn chặn hay chống xẹp phổi, phòng hay chống mệt cơ, dùng an thần, thuốc mê trong phẫu thuật, ổn định thành ngực, bảo vệ đường thở ví dụ ở bệnh nhân tâm thần, bệnh nhân xuất huyết tiêu hóa cao mức độ nặng. Một điều nên biết, với suy hô hấp tăng CO2 hoặc giảm O2 không có ngưỡng để xác định khi bắt đầu thông khí nhân tạo. Ví dụ bạn không tự động đặt ống một bệnh nhân khi PaCO2 của họ tăng trên 60mm Hg hoặc PaO2 ở không khí phòng của họ xuống dưới 55 mm Hg. Thay vì đó, bạn phải cân nhắc tình trạng lâm sàng toàn diện và đánh giá xem mức độ tăng CO2 hoặc giảm O2 đã đưa đến nguy cơ đe dọa sự sống. Nếu họ có thể được hỗ trợ bởi cách thức khác như oxy qua mask, bạn có thể trì hoãn thông khí nhân tạo. Khi đó nếu PaO2 của họ tiếp tục giảm, mặc dù đã cung cấp mức độ oxy cao, thông khí nhân tạo sẽ là cần thiết. Tương tự như vậy nếu huyết động của bệnh nhân ổn định, bạn có thể cố cung cấp oxy qua mask, nhưng nếu bệnh nhân có dấu hiệu sốc với huyết động không ổn định và suy đa tạng, bạn sẽ phải chuyển ngay lập tức sang đặt ống cho bệnh nhân và ổn định tình trạng hô hấp mục đích để bạn tập trung vào các vấn đề quan trọng khác.
2. Có 2 phương thức thông khí nhân tạo: Thông khí nhân tạo xâm nhập (đòi hỏi đặt ống nội khí quản) và thông khí nhân tạo không xâm nhập (hỗ trợ hô hấp qua mặt nạ). Có một số tình huống mà thông khí nhân tạo xâm nhập là cần thiết và các tình huống khác có thể hỗ trợ bằng thông khí nhân tạo không xâm nhập. Bệnh nhân này rơi vào phương thức sau. Mặc dù bệnh nhân có thở gắng sức rõ, tăng PaCO2, pH tụt xuống, nhưng một thử nghiệm thông khí nhân tạo không xâm nhập là phù hợp với bệnh nhân này. Hiện đã có số liệu lớn chỉ ra những bệnh nhân trong đợt bùng phát của COPD và tăng CO2 có thể quản lý thành công với thở máy không xâm nhập, chiến lược này giảm những liên quan với việc đặt ống nội khí quản và thông khí xâm nhập, cải thiện tỷ lệ sống, rút ngắn thời gian nằm ICU khi so sánh với bệnh nhân không sử dụng phương thức này. Cùng với số liệu này là các khuyến cáo phải theo dõi sát tình trạng hô hấp của bệnh nhân. Nếu có cải thiện, cần duy trì phương thức này. Nhưng nếu oxy máu hoặc CO2 tồi tệ hơn khi đã thông khí không xâm nhập tốt nhất, hoặc bệnh nhân trở lên không đáp ứng, hoặc bệnh nhân không hợp tác, bệnh nhân sẽ đòi hỏi phải đặt ống và thông khí nhân tạo xâm nhập.
3. Trong thở CPAP, một mức độ áp lực không thay đổi được cung cấp tới đường dẫn khí qua chu kỳ hô hấp (Hít vào và thở ra). Áp lực này tạo nên stent mở rộng đường dẫn khí và ngăn chặn xẹp phế nang, do đó tránh xẹp phổi và cải thiện oxy máu. Không có thêm áp lực giải phóng trong thì hít vào, bởi vậy không có hỗ trợ thông khí. Trong thở BiPAP, nói đến như là thông khí áp lực dương không xâm nhập, áp lực thở ra cung cấp tới đường dẫn khí trong thì thở ra là giống như áp lực trong thở CPAP. Trong khi hít vào có hỗ trợ thêm áp lực tới đường dẫn khí, tạo nên sự giúp đỡ cơ hô hấp trong sự gắng sức của bệnh nhân để sinh dòng hít vào tới phế nang. Sự khác nhau này của CPAP và BiPAP có vai trò lớn trong các tình huống lâm sàng. Với thở CPAP thường có vai trò lớn trong tắc nghẽn ngừng thở khi ngủ, phù phổi tim. BIPAP có vai trò trong đợt bùng phát của COPD, suy hô hấp do bệnh lý thần kinh cơ, yếu cơ. Ít có số liệu chỉ ra vai trò của BiPAP trong hen, một số nghiên cứu chỉ ra vai trò của BiPAP trong điều trị bệnh nhân ung thư có viêm phổi.
Trang  [1 2 ]
 
Video giới thiệu
Các khoa trong bệnh viện
 Khoa điều trị tích cực
 Khoa khám bệnh
Tư vấn
 Tư vấn
 
Trang chủ  |  Giới thiệu Bệnh viện  |  Tin tức và sự kiện  |  Văn bản bệnh viện  |  Thông tin NCKH  |  Thông tin chuyên môn  |  Tổ chức chính trị đoàn thể  |  Văn bản bệnh viện  |  Giải đáp y học  | 
Bản quyền thuộc Bệnh viện 74 Trung ương
Địa chỉ: Phường Hùng Vương - Thành phố Phúc Yên - Tỉnh Vĩnh Phúc | Điện thoại : 0211.6268627; 0211.6500588 | Email : benhvien74tw@gmail.com