Thứ sáu, 15/11/2019 | 08:45 GMT+7
    Bảng giá khám bệnh, ngày giường và DMKT đối với người bệnh có thẻ BHYT  |  Đánh giá xét duyệt thuyết minh đề cương |  ĐỒNG CHÍ PHẠM THANH BÌNH CHỦ TỊCH CÔNG ĐOÀN Y TẾ VIỆT NAM |  KỶ NIỆM 109 NĂM NGÀY QUỐC TẾ PHỤ NỮ |  Bảng giá khám bệnh, ngày giường và DMKT đối với người bệnh có thẻ BHYT  |  Bệnh viện 74 Trung ương tổ chức buổi gặp mặt Kỷ niệm 64 năm |  Thông báo công nhận kết quả trúng tuyển viên chức |  Thông báo kết quả xét tuyển viên chức 2018 |  Hội nghị đại biểu công chức, viên chức, lao động năm 2018 |  Khai mạc kỳ xét tuyển viên chức năm 2018 | 
  •      
  •      
  •      
  •      
  •      
  •      
  •      
  •      
  •      
  •      
  •      
  •      
CÂU HỎI ĐƯỢC QUAN TÂM
Người bị bệnh lao khi ho, người bên cạnh có thể lây bệnh?
LIÊN KẾT

TÌM KIẾM
  Số lượt truy cập : 4324055  
  Số người online: 30  
 
 
case6
Trường hợp 6:
  Một bệnh nhân nữ 65 tuổi được đặt ống NKQ cấp cứu bởi đợt bùng phát nặng của COPD. Bệnh nhân trải qua đặt ống nhanh và có sử dụng giãn cơ, an thần. Sau đặt ống NKQ một thời gian ngắn, huyết áp của bệnh nhân tụt: từ 145/85 khi đặt xuống 95/60 sau khi đặt. Khám bệnh nhân có thời kỳ thở ra kéo dài và ran ngáy lan tỏa.
 
1. Các chẩn đoán cho hạ huyết áp ở bệnh nhân này là gì?
2. Làm gì để loại trừ các chẩn đoán phân biệt và xác định các nguyên nhân của vấn đề này?.
3. Bạn nên quản lý như thế nào nguồn gốc phù hợp nhất của vấn đề?
1. Bệnh nhân mất bù ngay lập tức sau đặt ống. Một số chẩn đoán đòi hỏi sau: Ống vào thực quản: Lúc đầu vào khí quản nhưng sau đó bị trượt xuống thực quản, ống NKQ đặt sâu quá, vấn đề dây thông khí không phù hợp kích cỡ, tràn khí MP áp lực, ảnh hưởng của thuốc an thần, auto PEEP nặng(bẫy khí và lạm dụng ở bệnh nhân tắc nghẽn dòng khí dẫn đến tăng áp lực trong lồng ngực, giảm máu tĩnh mạch trở về tim và giảm công suất tim), giảm máu tĩnh mạch trở về tim bởi thông khí áp lực dương, hoặc tình trạng rỗng thể tích ở bệnh nhân yếu, tim phải phụ thuộc vào tiền gánh như trong tăng áp lực động mạch phổi nặng.
2. Qua khám của bác sĩ có thể tìm ra được nguồn gốc của vấn đề. Mất RRPN một bên phổi, kèm theo tĩnh mạch cổ nổi nghi ngờ TKMP áp lực. Trong khi mất RRPN một bên phổi, kèm theo tĩnh mạch cổ bình thường, lệch trục khí quản sang bên phổi yên nặng nghi ngờ ống NKQ sâu. Tình trạng oxy tồi tệ, giảm hoặc không có RRPN 2 bên phổi, nghi nghờ ống vào thực quản. X.quang ngực có thể cũng tìm ra tồn tại của TKMP, ống NKQ sâu, trong khi xem xét lại hồ sơ sử dụng thuốc có thể chỉ ra vai trò của thuốc an thần. Tìm kiếm tồn tại của auto- PEEP, nếu BN không tự thở được, cho dừng thời kỳ thở ra xem sự khác nhau giữa PEEP tổng và PEEP cài đặt. Cũng có thể xem trên biểu đồ hiển thị trên màn hình đường cong thời gian và dòng: ở bệnh nhân bình thường dòng thở ra trở về 0 trước nhịp tiếp theo. Bệnh nhân có khả năng thở ra đầy đủ và không có dòng khí thở ra dài hơn vào thời gian nhịp thở tiếp theo. Ở bệnh nhân với auto-PEEP dòng thở ra không trở về đường 0 trước nhịp tiếp theo. Như là kết quả của tắc nghẽn dòng khí, dòng khí thở ra bị chậm và tiếp tục duy trì đến tận nhịp thở tiếp theo. Quan sát mẫu dòng khí thở ra trên hiện thị biểu đồ thừa nhận sự tồn tại của auto- PEEP nhưng không nói cho bạn tầm quan trọng của vấn đề.
3. Bệnh nhân được đặt ống bởi đợt bùng phát của COPD nặng, và phù hợp có nhiều sự tắc nghẽn dòng khí. Cách lý giải phù hợp nhất cho hạ huyết áp ở bệnh nhân này là auto-PEEP. Đây là vấn đề thường gặp ở bệnh nhân hen nặng và COPD, họ có các khí cạm trên thì thở ra và trở lên tăng dần lạm dụng. Sự lạm dụng này dẫn đến tăng áp lực trong lồng ngực, vì vậy giảm máu tĩnh mạch trở về tim, giảm công suất tim, và kết quả là giảm huyết áp. Bệnh nhân thậm chí có thể ngừng tim. Nhiều chiến lược được sử dụng để ngăn chặn và quản lý vấn đề này. Đầu tiên là thông khí phút ( VE) có thể được giảm bởi giảm tần số thở (RR) và Vt thấp hơn. Nếu bạn đặt khí ở trong phổi mỗi phút ít, bệnh nhân phải thở ra một lượng khí ít hơn và tất nhiên là có ít bẫy khí tiềm tàng hơn. Thứ hai là bạn có thể cải thiện thời gian thở ra hơn nữa cho bệnh nhân bằng cách tăng tỷ lệ dòng hít vào, bằng cách ấy sẽ giảm tỷ lệ thời gian hít vào trên thở ra ( tỷ lệ I: E). Cuối cùng là bạn có thể sử dụng các thuốc giãn phế quản, cocticoit để giãn nở phế quản, giảm viêm đường dẫn khí, và làm cho hơi thở ra mạnh. Nếu bệnh nhân trở lên mạch chậm, yếu, mất mạch, bạn nên dừng thông khí để ngực bệnh nhân xả bớt các khí cạm. Khía cạnh chìa khóa của quản lý auto-PEEP là dự đoán tình huống có thể xảy ra. Bệnh nhân được đặt ống trong hen nặng và đợt bùng phát của COPD là ứng cử chủ yếu cho vấn đề này, và bạn nên luôn luôn chú ý bởi vấn đề trong các tình huống này.
 
 
Video giới thiệu
Các khoa trong bệnh viện
 Khoa điều trị tích cực
 Khoa khám bệnh
Tư vấn
 Tư vấn
 
Trang chủ  |  Giới thiệu Bệnh viện  |  Tin tức và sự kiện  |  Văn bản bệnh viện  |  Thông tin NCKH  |  Thông tin chuyên môn  |  Tổ chức chính trị đoàn thể  |  Văn bản bệnh viện  |  Giải đáp y học  | 
Bản quyền thuộc Bệnh viện 74 Trung ương
Địa chỉ: Phường Hùng Vương - Thành phố Phúc Yên - Tỉnh Vĩnh Phúc | Điện thoại : 0211.6268627; 0211.6500588 | Email : benhvien74tw@gmail.com